Cập nhật:
Bơm chìm giếng khoan hỏng vì chạy khô là dạng hỏng phổ biến và cũng là dạng tránh được bằng thiết bị rẻ. Vấn đề là có hai cách bảo vệ, chúng hoạt động theo hai nguyên lý khác nhau, và mỗi cách có chỗ mạnh chỗ yếu riêng — biết rõ trước khi chọn thì đặt ngưỡng mới đúng.

Mục lục
Hai nguyên lý bảo vệ
| Cách | Nguyên lý | Đo cái gì |
|---|---|---|
| Theo dòng điện | Máy hụt nước thì tải nhẹ đi, dòng giảm | Dòng điện tại tủ |
| Theo mức nước | Cảm biến hoặc điện cực báo mực nước trong giếng | Mực nước thực tế |
Cách thứ nhất không cần đưa thiết bị gì xuống giếng. Cách thứ hai đo đúng thứ cần biết nhưng phải có cảm biến trong giếng.
Bảo vệ theo dòng: ưu và nhược
Ưu:
- Không phải đưa thêm thiết bị xuống giếng.
- Lắp đặt gọn, nằm hoàn toàn trong tủ.
- Bảo vệ được cả một số sự cố khác ngoài chạy khô.
Nhược:
- Ngưỡng khó đặt chính xác: khoảng chênh giữa dòng khi đủ nước và dòng khi hụt nước không lớn ở mọi máy.
- Dòng còn thay đổi theo điện áp nguồn, nên nguồn yếu có thể gây cắt nhầm.
- Phát hiện muộn hơn: máy đã hụt nước rồi mới có tín hiệu.
- Cần đặt lại ngưỡng nếu thay máy hoặc đổi điểm làm việc.
Cần tư vấn chọn máy cho đúng việc? Gọi hoặc nhắn Zalo để được hỗ trợ.
Bảo vệ theo mức nước: ưu và nhược
Ưu:
- Đo đúng đại lượng cần biết, không suy đoán gián tiếp.
- Cắt trước khi máy hụt nước, nếu đặt ngưỡng ở trên đầu hút một khoảng.
- Đặt được nhiều ngưỡng: dừng, chạy lại, báo động.
- Không bị ảnh hưởng bởi thay đổi điện áp.
Nhược:
- Phải đưa cảm biến hoặc điện cực xuống giếng, thêm dây và thêm chỗ chiếm.
- Cảm biến có thể bám cặn hoặc hỏng, cần kiểm định kỳ.
- Kéo máy lên thì thường phải xử lý cả phần cảm biến.
⚠️ Điều kiện dừng
Đừng vận hành bơm giếng khoan không có bảo vệ chạy khô nào, dù chỉ tạm trong thời gian chờ lắp. Một lần máy chạy khô qua đêm là đủ để hỏng phớt và làm nước vào động cơ. Nếu chưa có thiết bị, phương án tạm chấp nhận được là chỉ chạy khi có người trông và tắt ngay khi nước yếu.
Cách chọn giữa hai phương án
| Tình huống | Nghiêng về |
|---|---|
| Giếng khoẻ, mực nước động ổn định, ít khi gần ngưỡng | Theo dòng, đủ dùng |
| Giếng yếu, mực nước động hay sát ngưỡng | Theo mức nước |
| Giếng thay đổi mạnh theo mùa | Theo mức nước |
| Điện áp nguồn dao động nhiều | Theo mức nước |
| Giếng hẹp, không còn chỗ cho cáp cảm biến | Theo dòng |
| Hệ có nhiều điểm cần báo động | Theo mức nước |
Nhiều hệ dùng cả hai: theo mức nước làm bảo vệ chính, theo dòng làm lớp thứ hai. Đây là cách an toàn nhất và không đắt hơn nhiều.
Đặt ngưỡng theo dòng cho đúng
- Chạy máy ở điều kiện đủ nước, đo dòng ổn định của từng pha và ghi lại.
- Chạy tới khi máy bắt đầu hụt nước nếu điều kiện cho phép, đo dòng lúc đó.
- Đặt ngưỡng ở giữa hai giá trị, nghiêng về phía giá trị đủ nước một chút.
- Đặt trễ thời gian vài giây, tránh cắt vì dao động tức thời.
- Đặt thời gian nghỉ trước khi tự chạy lại, đủ để giếng hồi mực.
- Giới hạn số lần tự chạy lại trong một khoảng thời gian, tránh vòng lặp chạy khô liên tục.
- Ghi tất cả các giá trị đã đặt vào hồ sơ, dán trong cánh tủ.
Mục 6 hay bị bỏ. Không có nó, một hệ tự chạy lại sẽ lặp vòng “chạy khô vài phút rồi nghỉ” suốt cả ngày, và tổng thời gian chạy khô tích lại rất lớn.
Đặt ngưỡng theo mức nước cho đúng
- Ngưỡng dừng đặt cao hơn đầu hút một khoảng an toàn, không đặt sát đầu hút.
- Ngưỡng chạy lại cao hơn ngưỡng dừng đủ để giếng đã hồi phần nào.
- Trễ thời gian cho cả hai ngưỡng, tránh dao động mặt nước.
- Ngưỡng báo động thấp hơn ngưỡng chạy lại, để người vận hành biết giếng đang yếu.
- Kiểm cảm biến định kỳ bằng cách thử hạ mức mô phỏng.
Ngưỡng dừng đặt sát đầu hút là lỗi hay gặp: nó khiến máy vẫn chạy trong vùng nước xoáy lẫn khí một khoảng thời gian trước khi cắt.
Ví dụ có ghi rõ giả định
Giả định: giếng yếu dần theo các mùa khô, hệ đang dùng bảo vệ theo dòng, ngưỡng đặt từ nhiều năm trước, gần đây máy hay cắt vào giữa trưa nhưng cũng có hôm không cắt mà nước vẫn yếu.
Cách đọc: “có hôm cắt, có hôm không cắt mà nước vẫn yếu” là dấu hiệu ngưỡng theo dòng không còn bám sát thực tế — máy đang hụt nước ở mức mà dòng chưa giảm đủ để chạm ngưỡng. Với giếng đã yếu đi theo mùa, bảo vệ theo mức nước bám sát hiện tượng hơn. Trước mắt nên đo lại dòng ở cả hai trạng thái và đặt lại ngưỡng, đồng thời tính phương án thêm cảm biến mức. Tình huống là giả định để minh hoạ, không phải trường hợp của công trình bạn.
Những gì nên ghi vào hồ sơ tủ
| Mục | Ghi gì |
|---|---|
| Nhãn máy | Công suất, dòng định mức, kiểu đấu |
| Dòng đo thực tế khi đủ nước | Từng pha |
| Ngưỡng bảo vệ đã đặt | Giá trị và ngày đặt |
| Thời gian trễ và thời gian nghỉ | Giá trị đã đặt |
| Ngưỡng mức nước nếu có | Dừng, chạy lại, báo động |
| Chiều sâu đặt máy | Mét |
| Người đặt và ngày | Để truy lại khi cần |
Tờ hồ sơ này dán trong cánh tủ có giá trị lớn hơn nhiều so với công sức bỏ ra làm nó, nhất là khi người quản lý thay đổi.

Câu hỏi hay gặp
Rơ le nhiệt có bảo vệ chạy khô không? Không. Rơ le nhiệt bảo vệ quá tải, tức là dòng cao. Chạy khô làm dòng giảm, nên rơ le nhiệt thường không cắt.
Phao trong bể chứa có thay được bảo vệ trong giếng không? Không. Phao trong bể bảo vệ chuyện bể đầy hoặc bể cạn, không biết gì về mực nước trong giếng.
Có loại tủ tích hợp sẵn cả hai kiểu bảo vệ không? Có. Khi hỏi mua nên nêu rõ giếng thuộc loại khoẻ hay yếu để được đề xuất mức bảo vệ tương xứng, không thừa chức năng không dùng.
Bao lâu nên kiểm lại bảo vệ một lần? Nên thử thực tế theo chu kỳ bảo trì, và bắt buộc thử lại sau mỗi lần thay máy, đổi chiều sâu đặt máy hoặc sửa tủ.
Cần hỗ trợ
Gửi: nhãn máy, dòng đo thực tế khi máy chạy đủ nước, ngưỡng bảo vệ đang đặt, mực nước tĩnh và động, chiều sâu đặt máy, ảnh tủ điện hiện có. Bộ phận kỹ thuật đề xuất kiểu bảo vệ phù hợp với tình trạng giếng và hướng dẫn đặt ngưỡng theo số đo thực tế.
Xem dải máy tại tủ điện tử và bơm chìm giếng khoan.
Liên hệ: Bùi Thơ — 0972668343 (gọi hoặc Zalo cùng số). Công ty TNHH Thương mại và Công nghiệp Trung Kiên.
